logo
Loading...
Cập nhật: 03.09.2014 11:20 - Lượt xem: 2,059
Nhìn lại lịch sử: Phiên tòa tranh tụng vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông

Trong bối cảnh hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam đang nỗ lực thực hiện cải cách tư pháp và xây dựng mô hình tố tụng tư pháp theo hướng mở rộng tranh tụng dân chủ của hoạt động tố tụng nói chung và tố tụng hình sự nói riêng, việc nghiên cứu để tìm ra mô hình tố tụng hướng vào các giá trị thực chất được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm cả trên góc độ quốc gia và quốc tế. Bằng các tư liệu lịch sử đã được công bố về vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông trong khoảng thời gian từ năm 1931- 1933, bài viết này trình bày các nội dung trọng tâm của vụ án trên phương diện pháp lý về tranh tụng của vụ án và đôi điều suy ngẫm về vấn đề tranh tụng rút ra từ vụ án. Và cao hơn nữa, qua việc “ôn cố tri tân” xin gợi mở một vài vấn đề về nghiên cứu trong việc tìm kiếm mô hình tranh tụng tư pháp hình sự của Việt Nam trước những đòi hỏi phải khẩn trương thay đổi của đời sống pháp lý hội nhập hiện nay.

1. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Hồng Kông bắt giam

Ngày 05 tháng 6 năm 1911, sau khi đoạn tuyệt với đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc của các bậc sĩ phu trong nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành mà sau này là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam đã rời cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước. Sau nhiều năm bốn ba khắp năm châu bốn biển, tháng 6/1916 Nguyễn Ái Quốc đặt chân đến nước Pháp. Bắt đầu từ đây, Người tiếp thu học thuyết Mác – Lênin, tham gia các nhóm và phong trào cộng sản quốc tế, viết báo phê phán chế độ thực dân đế quốc, tham gia thành lập các tổ chức cách mạng Việt Nam ở Trung Quốc, làm ủy viên Quốc tế Cộng sản...đến ngày 03/2/1930 thì về Hồng Kông chủ trì họp thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.

Tư tưởng và hành động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện rất rõ Người là lãnh tụ của cách mạng Việt Nam thời bấy giờ. Và để đáp trả hành động của Nguyễn Ái Quốc, chính quyền thực dân Pháp luôn phái mật thám dò la tin tức, rình rập ngày đêm để tìm cách bắt giữ Người. Tức giận và bất lực trước người cộng sản có một không hai này, ngày 10 tháng 10 năm 1929 Tòa án Nam triều tại tỉnh Vinh(Nghệ An) đã kết án tử hình vắng mặt Nguyễn Ái Quốc.

Tháng 4/1930 Nguyễn Ái Quốc là thành viên Ban phương Đông của Quốc tế Cộng sản tại Thượng Hải chuyển sang hoạt động tại Singapore. Thời gian này Nguyễn Ái Quốc được lãnh sự quán Trung Quốc tại Singapore cấp hộ chiếu với tên gọi Tống Văn Sơ, sinh năm 1895 tại Đông Hưng – Liêm Châu, mang quốc tịch Trung Quốc. Ngày 02/6/1931, cảnh sát Anh tại Singapore bắt được chiến sỹ cách mạng Đuypont, một người bạn của Nguyễn Ái Quốc và là người được Quốc tế Cộng sản cử theo dõi giúp đỡ Đảng cộng sản Đông Dương.

Khám xét trong người Đuypont, cảnh sát Anh lần ra địa chỉ của Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông. Ngày 06/6/1931, thanh tra cảnh sát Carey người phụ trách đội chống cộng của Hồng Kông đã dẫn một nhóm cảnh sát bí mật bất ngờ vây bắt Nguyễn Ái Quốc và cô cháu gái Lý Sâm(cũng là một nữ chiến sỹ hoạt động bí mật, sau này là vợ của Hồ Tùng Mậu) tại số nhà 186 đường Tam Lung, Cửu Long nhưng không có lệnh bắt, Tống Văn Sơ được đưa về nhà giam của cảnh sát. Ngay sau đó chính quyền Hồng Kông đã thông báo cho chính phủ Pháp biết.

Chính quyền thực dân Pháp vô cùng mừng rỡ bởi chúng biết rõ Tống Văn Sơ là người như thế nào và ngay lập tức mở cuộc vận động thông quan con đường ngoại giao để thuyết phục chính quyền Hồng Kông và chính quyền Anh ở Luân Đôn bí mật giao Nguyễn Ái Quốc cho Pháp. Thống đốc Hồng Kông, Peel William chấp thuận theo ý đồ của người Pháp. Để hợp thức hóa việc giam giữ Tống Văn Sơ và Lý Sâm, ngày 11/6/1931 Thống đốc Hồng Kông ra lệnh bắt giữ Tống Văn Sơ. Cảnh sát Hồng Kông đã cố gắng điều tra bằng mọi cách nhưng không tìm ra được bất kỳ bằng chứng nào chứng minh được Tống Văn Sơ có hành vi chống lại nước Anh. 

Sau khi bị bắt, Tống Văn Sơ đã kịp thời liên hệ được với nhà cách mạng Hồ Tùng Mậu để tìm cách đối phó với âm mưu của chính quyền thực dân. Ngay lập tức, Hồ Tùng Mậu đã đến gặp Luật sư F.H.Loseby để nhờ vị luật sư này bào chữa cho Tống Văn Sơ và Lý Sâm. Luật sư F.H.Loseby đã vào ngay nhà giam gặp Tống Văn Sơ để tìm hiểu vụ việc. Bằng sự nhiệt tình và tinh thần thượng tôn luật pháp, luật sư Loseby và các đồng nghiệp của ông đã bóc trần thủ đoạn chính trị bẩn thỉu của nhà cầm quyền Anh – Pháp, và buộc nhà cầm quyền Hồng Kông phải đưa vụ án ra giải quyết theo đúng trình tự tố tụng mà pháp luật Anh quốc đã quy định.

2. Quá trình xét xử của Tòa án Hồng Kông

Vụ án Nguyễn Ái Quốc(Tống Văn Sơ) được Tòa án Hồng Kông xét xử bằng 09 phiên tòa có sự ngắt quãng về mặt thời gian. Mỗi phiên tòa chỉ giải quyết một hoặc một số vấn đề pháp lý trong thực hiện các quy tắc tố tụng đối với hoạt động điều tra của cảnh sát và vấn đề áp dụng pháp luật của chính quyền Hồng Kông. Trong 09 phiên tòa ấy, Tống Văn Sơ và Lý Sâm chỉ được phép có mặt trong một số phiên tòa mà thôi. Mặc dù được đưa đến trong một số phiên tòa nhưng Tống Văn Sơ không được quyền trình bày trước tòa, nếu muốn nói gì thì chỉ được phép trao đổi với luật sư của mình, mọi việc còn lại do luật sư đảm trách.

2.1. Phiên tòa thứ nhất, ngày 31/7/1931:

Phiên tòa này do Chánh án Joseph Kemp chủ tọa, có sự tham gia của Phó chánh án - Thẩm phán Justice Lindsell. Phía Viện công tố có các Công tố viên Alabaster và Somerset Fitzroy đại diện cho Hoàng gia Anh. Các luật sư biện hộ cho Tống Văn Sơ và Lý Sâm theo sự ủy nhiệm của luật sư F.H.Loseby gồm hai luật sư: F.C.Jenkin và L.Soares. Đặc biệt là phiên tòa này được xét xử mà không có mặt Tống Văn Sơ và Lý Sâm, cả hai người đang bị tạm giam tại ngục Víchtoria. Phiên tòa lần thứ nhất, Chánh án Joseph Kemp chủ yếu dành phần lớn thời gian để nghe lý lẽ bào chữa và các thỉnh cầu, đề nghị của luật sư Jenkin. Có 03 nội dung chính được luật sư đề cập trước tòa là:

Thứ nhất, luật sư tố cáo những việc làm bất hợp pháp của cảnh sát và chính quyền Hồng Kông: Cảnh sát đã thực hiện việc khám xét, bắt giữ Tống Văn Sơ và Lý Sâm một cách vô căn cứ và không có lệnh bắt. Sau đó chính quyền Hồng Kông đã ra lệnh bắt giữ để hợp thức hóa, bao che cho việc làm sai phạm của cảnh sát. Lệnh bắt giữ Tống Văn Sơ đề ngày 11/6/1931, đến ngày 12/6/1931 chính quyền Hồng Kông lại tiếp tục ra lệnh bắt giữ thêm một lần nữa nhưng thực tế Tống Văn Sơ và Lý Sâm bị bắt vào ngày 06/6/1931, nghĩa là chính quyền đã ra lệnh bắt giữ đối với người đã bị bắt giữ, điều này là trái luật.

Về thủ tục giam giữ, nếu theo lệnh bắt giữ thì lệnh sẽ hết hiệu lực vào ngày 25/6/1931 nhưng Thống đốc Hồng Kông lại giam giữ thêm 07 ngày. Đến ngày 01/7/1931 lệnh hết hiệu lực nhưng đến ngày 02/7/1931 Thống đốc Hồng Kông lại ban hành một lệnh giam giữ tiếp theo, nghĩa là Tống Văn Sơ và Lý Sâm đã bị giam giữ 01 ngày không có lệnh. Theo quy định của luật pháp Anh quốc thì trong trường hợp này chính quyền chỉ có thể ban hành lệnh bắt mới mà không phải lệnh tiếp tục cầm tù. 

Thứ hai, luật sư tố cáo các sai phạm, không tuân thủ nguyên tắc tố tụng về mặt thời gian của nhân viên điều tra thuộc sở cảnh sát Hồng Kông. Trong quá trình điều tra, nhân viên cảnh sát đã chậm thẩm vấn các bị can, hơn một tháng sau, ngày 10/7/1931 cảnh sát mới tiến hành thẩm vấn lần đầu. Điều này là trái luật, bởi vì luật tố tụng Anh quốc quy định việc thẩm vấn bị can phải được tiến hành sớm nhất sau khi bắt giữ. 

Thứ ba, luật sư tố cáo nhân viên cảnh sát thực hiện việc thẩm vấn đã vượt quá nội dung và phạm vi thẩm vấn mà quy tắc tố tụng đã ấn định. Luật Anh quốc quy định phạm vi người thẩm vấn chỉ được hỏi người bị bắt 07 câu hỏi, bao gồm: 

1. Anh(chị) tên là gì?

2. Anh(chị) bao nhiêu tuổi?

3. Anh(chị) sinh ra ở đâu?

4. Người ta tố cáo rằng anh(chị)....vậy anh(chị) có điều gì muốn trình bày để đáp lại lời cáo buộc đó không, hoặc có lý do gì nêu ra để chứng minh vì sao không thể trục xuất anh(chị)?

5. Anh (chị) ở Nhượng địa (chỉ Hồng Kông) này bao lâu rồi?

6. Anh(chị) có người quen nào ở nhượng địa này không, nếu có thì họ là những ai và có thể tìm họ ở đâu?

7. Anh(chị) có người làm chứng không và họ là ai, nếu có thì có thể tìm họ ở đâu hoặc có gì để chứng minh những lời khai của anh(chị) không?

Quy định của tố tụng là đã rất rõ ràng, nhân viên chính quyền chỉ được phép làm những gì mà luật cho phép, còn công dân thì được phép làm những gì luật không cấm. Khi thẩm vấn Tống Văn Sơ, nhân viên điều tra của Sở cảnh sát đã hỏi Tống Văn Sơ có phải là cộng sản không, có phải là thành viên của Quốc tế cộng sản không; khi thẩm vấn Lý Sâm thì nhân viên điều tra lại hỏi nữ bị can đã có chồng hay chưa? Tất cả những câu hỏi loại này luật tố tụng Anh quốc không cho phép. 

Thứ tư, luật sư đòi Chủ tọa phiên tòa ban hành lệnh thi hành Luật bảo thân cho phép hai bị cáo được có mặt tại Tòa án, yêu cầu Giám thị ngục Vichtoria phải đích thân đưa hai bị cáo ra trước Tòa để kiểm tra tính hợp pháp của việc giam giữ. Chánh án J. Kemp chấp nhận và cho rằng cần phải triệu tập Giám thị ngục Vichtoria đến Tòa án để giải thích lý do vì sao không thi hành Luật bảo thân. Đến đây phiên tòa tạm dừng. 

Tuy việc xét xử mới chỉ là bắt đầu nhưng dựa vào việc điều tra và kết quả giám định các tài liệu, giấy tờ thu được khi khám xét và bắt giữ Tống Văn Sơ, nhà cầm quyền Anh tại Hồng Kông nhận thấy không đủ bằng chứng cáo buộc Tống Văn Sơ chống lại nước Anh, cho nên vào ngày 06/8/1931 Thống đốc Hồng Kông lại ban hành một lệnh trục xuất khỏi Nhượng địa(Hồng Kông) đối với Tống Văn Sơ trong 10 năm, buộc Tống Văn Sơ phải rời khỏi Hồng Kông bằng tàu biển được chỉ định là tàu Algers của Pháp đi Sài Gòn, tàu này sẽ rời Hồng Kông vào ngày 18/8/1931. Sở dĩ có việc trục xuất Tống Văn Sơ lên tàu biển của Pháp là vì trước đó chính quyền thực dân Pháp vừa bí mật vừa bằng con đường ngoại giao ra sức thuyết phục Thống đốc Hồng Kông và Bộ thuộc địa Anh quốc rằng Tống Văn Sơ chính là Nguyễn Ái Quốc - một nhà cách mạng cộng sản An Nam cực kỳ nguy hiểm cho các chính quyền thực dân.

2.2. Phiên tòa thứ hai, ngày 14/8/1931:

Vẫn thành phần những người tiến hành tố tụng như phiên tòa thứ nhất. Điểm nổi bật trong phiên tòa này là sự tranh tụng giữa bên buộc tội(công tố viên) và bên bào chữa(luật sư). Mở đầu phiên tòa, luật sư Gienkin đề nghị Tòa cho phép 02 bị cáo được có mặt để có thêm những thông tin cần thiết. Luật sư cũng cho rằng về mặt nguyên tắc thì chính quyền Hồng Kông có quyền trục xuất ngay lập tức và ban hành bất cứ mệnh lệnh nào(ám chỉ lệnh trục xuất ngày 06/8/1931 đối với Tống Văn Sơ của Thống đốc Hồng Kông) nhưng việc trục xuất chỉ có thể thực hiện khi tính pháp lý của nó đã được xác nhận bởi các nguyên tắc luật pháp. Gienkin yêu cầu phía công tố có trách nhiệm làm sáng tỏ tính pháp lý và sự minh bạch mệnh lệnh này của chính quyền Hồng Kông. 

Đáp trả lại lý lẽ của Gienkin, Công tố viên Alabaster lập luận rằng kiểu yêu cầu của luật sư từ trước đến nay là chưa hề có tiền lệ nào, đòi hỏi của luật sư là quá nhiều có thể dẫn đến những yêu cầu vô lý khác, việc cho phép các bị cáo có mặt tại Tòa sẽ đem lại những hậu quả lớn về an ninh trật tự của phiên tòa, Alabaster đã đề nghị Tòa bác bỏ các đề nghị của luật sư. Tuy nhiên, Chánh án J.Kemp lại tuyên bố chấp nhận lý lẽ và đề nghị của luật sư, đến đây Tòa tuyên bố tạm nghỉ 10 phút.

Sau đó phiên tòa tiếp tục họp lại để nghe công tố viên Alabaster công bố trước Tòa những lời khai có tuyên thệ của Tống Văn Sơ. Trong những lời khai của mình, Tống Văn Sơ tố cáo hành vi sai phạm của cảnh sát: bắt người mà không có sự cáo buộc nào, không được nghe đọc bất cứ lệnh bắt giữ nào cả, cảnh sát đã ngăn cản không cho Tống tìm người tư vấn pháp luật, khi đưa vào nhà giam thì lúc đầu cảnh sát không cho phép Tống Văn Sơ được nói chuyện với luật sư, hỏi những câu ngoài phạm vi luật cho phép, cố tình mớm và ép cung buộc Tống phải nhận là người An Nam, là cộng sản và đang có âm mưu chống lại chính quyền Đông Dương. Sau khi công bố những lời khai của Tống Văn Sơ, Alabaster đã phủ nhận những lời cung khai ấy.

2.3. Phiên tòa thứ ba, ngày 15/8/1931:

Vẫn là cuộc tranh luận giữa công tố viên và luật sư. Tranh cãi đầu tiên là về lệnh trục xuất ngày 06/8/1931 của Thống đốc Hồng Kông. Công tố viên Alabaster cho rằng lệnh trục xuất nhất định phải được thực hiện, nếu phiên tòa không kết thúc kịp vào ngày 17/8/1931 để trục xuất Tống Văn Sơ và Lý Sâm theo đúng lịch trình nhổ neo của tàu Algers vào ngày 18/8/1931 thì cách giải quyết trục xuất tiếp theo là đổi sang tàu biển General Metzinger đi cùng đường sẽ rời Hồng Kông vào ngày 01/9/1931. Còn nếu như phiên tòa kết thúc vào ngày 17/8/1931 thì việc trục xuất sẽ thực hiện đúng theo lịch trình rời Hồng Kông của tàu Algers.

Đáp lại lập luận của phía công tố, luật sư Gienkin tố cáo âm mưu của chính quyền Hồng Kông muốn giao nộp Tống Văn Sơ cho chính quyền Pháp ở Đông Dương bằng lệnh trục xuất ngày 06/8/1931. Gienkin đề nghị rằng dù cho phiên tòa có kết thúc vào ngày 17/8/1931 hoặc bất kể kết quả xét xử như thế nào thì cũng không được trục xuất thân chủ của ông ta bằng kế hoạch mà Alabaster đã phác thảo trước tòa. Bởi vì theo luật lệ Anh quốc, nếu trục xuất một người ra khỏi lãnh thổ Anh thì phải trục xuất về nơi người đó có quốc tịch hoặc nơi được cấp hội chiếu, Tống Văn Sơ có quốc tịch Trung Quốc thể hiện rất rõ trên hộ chiếu, vì vậy việc trục xuất ông ta về Đông Dương là không có cơ sở để thực hiện.

Điểm đáng chú ý trong phiên tòa này là việc công tố viên tiếp tục công bố những lời khai mới của Tống Văn Sơ. Trong lời khai đó, Tống Văn Sơ tiếp tục tố cáo những sai phạm và các hành vi tố tụng gian lận, bất minh của cảnh sát. Tống Văn Sơ phủ nhận bí danh của mình là Nguyễn Ái Quốc, ông thừa nhận mình không phải là cộng sản mà là người dân tộc chủ nghĩa, ông chiến đấu vì nhân dân, muốn xóa chế độ áp bức của Pháp và thay thế bằng một chế độ nhân từ và văn minh hơn theo sự phát triển của lịch sử nhân loại. Tổ chức của ông không phải là Đảng cộng sản nhưng lại trông mong vào sự giúp đỡ của Anh quốc, bản thân ông không muốn làm bất cứ điều gì có hại cho nước Anh. Vì vậy ông muốn được tư do để sang Anh, nếu ông bị giao về Đông Dương thì ông có thể bị tử hình mà không cần xét xử. 

Biên bản lời khai của Tống Văn Sơ do Alabaster đọc tại Tòa là bản biên soạn đánh máy sẵn do nhân viên điều tra của cảnh sát thực hiện đã điền thêm 02 bí danh khác của Tống Văn Sơ là Lý Thụy và Nguyễn Ái Quốc nhưng thật ra Tống Văn Sơ không hề khai mình có các bí danh này. Luật sư Gienkin đã phát hiện ra việc làm gian lận này của nhân viên thẩm vấn: trong lúc thẩm vấn, những lời khai của Tống Văn Sơ được ghi chép lại bằng bút viết tay nhưng lời khai công bố tại Tòa lại là bản đánh máy đã được biên soạn lại. Vì vậy luật sư Gienkin yêu cầu phía công tố cho ông được tận mắt xem và đọc các câu trả lời của Tống Văn Sơ trong biên bản ghi lời khai đã được ghi chép lần đầu bằng tay. Yêu cầu này của Gienkin được Chánh án đồng ý, Alabaster nói tránh rằng ông ta sẽ cho điều tra lại việc này nhưng ông ta không chắc là có thể tìm ra được bản viết tay lần đầu ghi chép lời khai của Tống Văn Sơ. 

Điểm cuối cùng đáng lưu ý tại phiên tòa lần thứ 3 là trong lời khai của mình, Tống Văn Sơ tự nhận mình là người hoạt động chính trị và có xung đột với chính quyền thực dân Pháp. Thực chất của việc xin sang Anh là xin tị nạn chính trị. Đây là một sự kiện pháp lý đặc biệt tạo nên ảnh hưởng tốt cho lời bào chữa của luật sư ở các phiên tòa tiếp theo khi vận dụng truyền thống pháp luật Anh quốc để bảo vệ và giành lại công lý cho Tống Văn Sơ. 

Chiều ngày 15/8/1931, sau phiên xử của tòa, Thống đốc Hồng Kông lại ban hành một lệnh trục xuất lần thứ hai đối với Tống Văn Sơ theo như dự liệu về việc thay đổi tàu biển General Metzinger mà công tố viên Alabaster đề nghị từ lúc tòa khai mạc vào đầu giờ sáng.

2.4. Phiên tòa thứ tư, ngày 20/8/1931:

Nếu như cả 03 phiên tòa trước đơn xin thi hành Luật bảo thân của Tống Văn Sơ, Lý Sâm và các luật sư chưa được Tòa quan tâm giải quyết thì tại phiên Tòa lần này Luật bảo thân đã được thi hành. Tống Văn Sơ và Lý Sâm được có mặt tại phiên tòa trong sự bảo vệ rất nghiêm ngặt của cảnh sát. Lý Sâm được phía công tố đề nghị Tòa tha bổng, Chánh án J.Kemp chấp thuận và cho phép Lý Sâm được rời ghế bị cáo để đến ngồi cạnh luật sư của mình là Loseby.

Tại phiên tòa, luật sư Gienkin cho rằng không có bất cứ cơ sở pháp lý nào cáo buộc Tống Văn Sơ phạm luật và đề nghị Tòa ra lệnh phóng thích bị cáo. Công tố viên Alabaster lập luận rằng Tòa không thể phóng thích Tống Văn Sơ được, vì trước khi Tòa kết thúc đã có một lệnh mới được ban hành trục xuất Tống Văn Sơ và để chờ trục xuất thì cần phải tiếp tục giam giữ bị cáo. 

Điểm nổi bật ở phiên tranh tụng này là vai trò của Chánh án chủ tọa, ông Joseph Kemp. Từ việc nghe lý lẽ của phía buộc tội và phía bào chữa từ các phiên tòa trước đến giờ, chánh án J.Kemp đã chỉ rõ tính chất và hiệu lực pháp lý của các vấn đề do hai bên tranh tụng đưa ra và chứng minh. Kemp tuyên bố việc làm sai của nhân viên điều tra cảnh sát Hồng Kông khi thẩm vấn đưa ra các câu hỏi không hợp lệ vì vượt quá phạm vi luật cho phép và Lệnh trục xuất Tống Văn Sơ được ban hành vào chiều thứ bảy ngày 15/8/1931 sau khi Tòa kết thúc là sai.

2.5. Phiên tòa thứ năm, ngày 24/8/1931:

So với 04 phiên tòa trước thì đây là phiên tòa gay cấn nhất. Luật sư Gienkin thay mặt Tống Văn Sơ đề nghị Chánh án cho áp dụng Luật bảo thân để Tống Văn Sơ được phép có mặt tại Tòa nhưng không được chấp nhận. Luật sư Gienkin đọc lời khai mới của Tống Văn Sơ gây nên sự náo động tại phiên tòa. Trong lời khai mới này, Tống Văn Sơ thừa nhận mình có quan hệ gắn bó với phong trào cách mạng ở Đông Dương và Việt Nam, mục đích của phong trào này là lật đổ chính quyền thực dân Pháp và thay thế bằng một chính quyền thân dân dưới sự lãnh đạo của người bản xứ. Vì bản thân tham gia rất tích cực nên ông bị nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương truy nã bằng một bản án tử hình. Tống Văn Sơ tiếp tục tố cáo hành động sai phạm của nhân viên điều tra: vừa ép cung, vừa mớm cung để dụ dỗ ông khai nhận mình là Nguyễn Ái Quốc thì sẽ thuận lợi cho việc bào chữa trước tòa, nhân viên điều tra còn dọa dẫm sẽ giao Tống Văn Sơ cho chính quyền Pháp.

Điểm nổi bật nhất của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa này là lời biện luận của luật sư bào chữa. Lý lẽ sắc sảo, thái độ kiên quyết và lịch lãm, luật sư Gienkin phê phán thủ tục ban hành lệnh trục xuất Tống Văn Sơ là sai trái: ngày 06/8/1931 đã ban hành lệnh trục xuất chưa thực hiện xong thì đến ngày 15/8/1931 lại ban hành một lệnh trục xuất mới áp dụng cho cùng một người là Tống Văn Sơ. 

Từ sự tuyên bố của chánh án J.Kemp về lệnh trục xuất Tống Văn Sơ vào chiều thứ bảy ngày 15/8/1931, luật sư Gienkin chỉ ra hoạt động bất minh của chính quyền hành pháp Hồng Kông trong việc ban hành lệnh này. Thực chất của quá trình ban hành một lệnh trục xuất theo quy định của luật pháp Anh tại Hồng Kông là trước khi ban hành lệnh thì toàn thể Hội Đồng Hành Pháp sẽ họp lại để thảo luận.  Bởi vì theo thông lệ làm việc thì hàng tuần cứ vào ngày thứ năm, Hội đồng Hành pháp Hồng Kông họp một lần để giải quyết các công việc bắt buộc phải có ý kiến của Hội đồng, vì vậy lệnh trục xuất Tống Văn Sơ ban hành vào chiều ngày thứ bảy 15/8/1931 là bất thường bởi ngày cuối tuần khó có thể triệu tập được một cuộc họp với đủ các thành viên Hội đồng Hành pháp. 

Luật sư Gienkin khẳng định Tống Văn Sơ không có bất cứ hành động nào chống đối hoặc làm tổn hại đến lợi ích của nước Anh, đồng thời tố cáo hành động lừa dối, bịp bợm của chính quyền Hồng Kông trong việc âm mưu giao Tống Văn Sơ cho chính quyền Pháp. Luật sư cho rằng việc trục xuất Tống Văn Sơ xuống một tàu biển của Pháp để đi về An Nam là một hành động dẫn độ đối với tội phạm chính trị, điều này là hoàn toàn trái với các nguyên tắc pháp luật và truyền thống của Anh quốc.

2.6. Phiên tòa thứ sáu, ngày 25/8/1931:

Cuộc tranh luận diễn ra một cách sôi động giữa công tố và luật sư. Công tố viên Alabaster đáp trả các ý kiến luật sư Gien kin đưa ra từ ngày hôm qua. Phía công tố đã trưng ra thêm một tài liệu nữa thể hiện Tống Văn Sơ đã cung khai với nhân viên điều tra rằng ông có thêm một bí danh thứ ba là Nguyễn Ái Quốc. Luật sư Gienkin cho rằng nhân viên điều tra đã dùng cách dụ cung để Tống Văn Sơ thừa nhận mình là Nguyễn Ái Quốc, việc làm như vậy vừa trái quy tắc tố tụng vừa tác động đến chính quyền hành pháp Hồng Kông trong việc đưa ra lệnh trục xuất. Vì vậy luật sư đề nghị Alabaster xác nhận tài liệu đưa ra là tài liệu giả không có giá trị chứng minh nhưng Alabaster đã cố tình né tránh.

Không khí tranh tụng diễn ra căng thẳng, chánh án gợi ý cho công tố viên Alabaster và luật sư Gienkin nên có một cuộc trao đổi ngắn trong khuôn khổ phiên tòa. Sau đó Alabaster buộc phải thừa nhận rằng rằng việc ban hành lệnh trục xuất chiều thứ bảy ngày 15/8/1931, thực chất Hội đồng Hành pháp đã họp vào ngày thứ năm theo đúng thông lệ nhưng lệnh trục xuất lại ban hành vào chiều thứ bảy.

2.7. Phiên tòa thứ bảy, ngày 02/9/1931:

Phiên tòa này không có mặt các bị cáo. Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa thứ bảy xoay quanh việc đánh giá về mặt pháp lý các hoạt động bắt giữ và trục xuất Tống Văn Sơ và Lý Sâm của cảnh sát và chính quyền Hồng Kông. Phía công tố do công tố viên Somerset Fitzroy trực tiếp tranh luận với luật sư Gienkin. 

Bảo vệ và biện minh cho các việc làm của cảnh sát và chính quyền hành pháp Hồng Kông, công tố viên S.Fitzroy cho rằng nếu việc bắt giữ Tống Văn Sơ và Lý Sâm ban đầu là không đúng luật thì việc bắt giữ và ra lệnh trục xuất ngày 06/8/1931 sau đó của chính quyền là đúng luật. Fitzroy cho rằng sau khi cảnh sát bắt 02 bị cáo đưa vào nhà tù của chính quyền là không đúng nhưng sau đó cảnh sát đã đưa 02 bị cáo ra khỏi nhà tù để chuyển về nhà giam của cảnh sát để chờ thực hiện việc trục xuất thì coi như 02 bị cáo bị bắt và giam giữ hợp pháp cho đến khi rời khỏi Nhượng địa(Hồng Kông).

Luật sư Gienkin bác bỏ lý lẽ biện minh về hành động của chính quyền của Fitzroy, Gienkin cho rằng đó là lời ngụy biện của phía chính quyền nhằm che đậy bản chất sự việc, bởi vì bắt người bất hợp pháp thì không thể làm cho việc bắt bất hợp pháp thành hợp pháp bằng việc ban hành một lệnh hợp pháp cho dù rằng luật pháp có cho phép đi chăng nữa. Nếu thừa nhận việc bắt giữ ban đầu là bất hợp pháp thì lệnh trục xuất ngày 06/8/1931 là không hợp lệ, cho nên lệnh trục xuất thứ hai ban hành chiều thứ bảy ngày 15/8/1931 với cơ sở không rõ ràng lại càng khó chấp nhận là đúng luật được.

2.8. Phiên tòa thứ tám, ngày 11/9/1931:

Kể từ phiên tòa thứ bảy thì hầu như tất cả mọi tài liệu, bằng chứng đã được phía buộc tội và phía bào chữa đưa ra trước tòa, hoạt động tranh tụng chủ yếu là thực hiện bởi hai bên buộc tội và bào chữa. Ở phiên tòa thứ tám, hoạt động tranh tụng lại mang màu sắc mới của kiểu tố tụng tranh tụng. Phần đối đáp giữa công tố và luật sư tạm ngưng mà thay vào đó là phần đánh giá của các quan tòa và lời biện hộ của luật sư. Tại tòa, chánh án J.Kemp tuyên đọc một phán quyết có tính chất hệ thống lại về mặt thời gian và các sự kiện pháp lý liên quan đến việc bắt giữ và trục xuất Tống Văn Sơ, cuối cùng J.Kemp cho rằng lệnh trục xuất ký 15/8/1931 của Thống đốc Hồng Kông theo ý kiến của Hội đồng Hành pháp họp vào ngày 13/8/1931 là có thể chấp nhận được và chỉ được thực hiện được nếu Tòa án cho rằng lệnh thứ hai này là cần thiết để bảo vệ lợi ích của nước Anh. Chánh án J.Kem nói rằng ông không đồng đồng ý với tất cả những điểm luật sư Gienkin đưa ra và giai thích rằng theo quy định của pháp luật thì Thống đốc Hồng Kông là người có quyền lực cao nhất trong việc ban hành lệnh trục xuất đối với bất cứ vị khách bất hảo nào ra khỏi Nhượng địa(Hồng Kông).

Luật sư Gienkin phê phán lệnh trục xuất ban hành ngày 15/8/1931 là hoàn toàn trái luật bởi vì lệnh không được ban hành qua một cuộc họp hợp lệ của Hội đồng hành pháp. Về mặt pháp lý thì không thể ban hành cùng lúc hai lệnh trục xuất đối với một người. Lệnh trục xuất một người khỏi lãnh thổ Anh quốc mà kèm theo chỉ định tàu biển là một việc làm gian lận và thực chất là một thủ đoạn dẫn độ chính trị phạm dưới chiêu bài trục xuất, điều đó là trái với pháp luật về dẫn độ và truyền thống của Anh quốc về đối xử đối với người tị nạn chính trị.

Thẩm phán Justice Lindsell tuyên bố rằng Tòa án cần quyết định xem lệnh trục xuất ngày 15/8/1931 cũng như việc giam giữ sau đó đối với Tống Văn Sơ là có hợp pháp hay không. Justice Lindsell không phân tích hay đánh giá về các hoạt động tố tụng của cảnh sát cũng như chính quyền Hồng Kông mà tuyên bố rằng ông ta đồng ý với nhận định của ông chánh án là lệnh trục xuất ban hành ngày 15/8/1931 cũng như việc giam giữ sau đó đối với Tống Văn Sơ là hợp pháp và có đủ cơ sở để Tòa chấp nhận.

Như vậy số phận pháp lý của Tống Văn Sơ đến đây đã được định đoạt. Dù lý lẽ tranh tụng của phía các luật sư là rất sắc sảo, rất thấu tình đạt lý, dù phía công tố gần như đã thất bại hoàn toàn về buộc tội nhưng Tòa án lại có ý bênh vực cho hành động sai trái của chính quyền Hồng Kông. Luật sư Gienkin tuyên bố rằng ông đã sẵn sàng nộp đơn kháng án lên Hội đồng Cơ mật(Tòa án nhà vua ở London). Tòa tuyên bố sẽ họp lại vào ngày mai để nghe phía luật sư trình bày lý do kháng án.

2.8. Phiên tòa thứ chín, ngày 12/9/1931:

Sáng ngày 12/9/1931 phiên tòa cuối cùng được họp lại với đầy đủ thành phần như phiên tòa đầu tiên. Trước Tòa, luật sư Gienkin thừa ủy nhiệm của luật sư Loseby trình bày các lý do để ông xin được kháng án lên Hội đồng cơ mật, gồm:

- Cảnh sát và chính quyền hành pháp Hồng Kông đã có sự lạm dụng quyền lực.

- Việc áp dụng các thủ tục thực hiện lệnh bắt và trục xuất để hợp thức hóa các hành động sai trái của cảnh sát và chính quyền trong việc giam giữ đối với Tống Văn Sơ là trái với các quy tắc tố tụng.

- Việc ban hành lệnh trục xuất là hoàn toàn không có cơ sở và không có giá trị. Lệnh trục xuất không có hiệu lực vì trái với truyền thống pháp luật và Sắc lệnh dẫn độ của Anh quốc: không cho phép dẫn độ người tị nạn chính trị.

- Việc trục xuất Tống Văn Sơ về Đông Dương thể hiện rõ mục đích của nhà chức trách Hồng Kông là giao ông ta cho chính quyền thực dân Pháp vì tội chính trị dẫn đến có thể bị tử hình.

- Nếu trục xuất Tống Văn Sơ khỏi Nhượng địa thì cử chỉ tốt đẹp nhất mà chính quyền hành pháp nên làm là không ép buộc trục xuất bằng việc chỉ định tàu biển về nơi đi và nơi đến, hãy để cho Tống Văn Sơ rời khỏi Nhượng địa bằng cách của ông ta.

- Tống Văn Sơ yêu cầu được hưởng quyền công dân đó là quyền tự do đã bị tước đoạt kể từ ngày 06/6/1931 và đòi phải trả cho ông ta số tiền hơn 5000 đôla là những thiệt hại mà Tống phải gánh chịu.

- Đây là vụ án có tầm quan trọng chung và công khai, do đó cần được đệ trình lên Đức Vua và Hội đồng Cơ mật xem xét lại.

Sau khi nghe bản thuyết trình các lý do kháng án của Gienkin, công tố viên Alabaster cho rằng đây là một vụ án đơn giản có tính chất cá nhân chứ không phải là vụ án có tầm quan trọng đối với công chúng Anh, vì vậy những lý do mà luật sư nêu ra để đưa vụ án này lên xem xét tại Hội đồng Cơ mật là không có lý do để chấp nhận. Nếu cho phép kháng cáo lên Hội đồng Cơ mật sẽ mất nhiều thời gian, do vậy cần phải có sự cam kết của bị cáo là phải kiên trì theo đuổi việc kháng án. Tuy nhiên Alabaster cũng tuyên bố rằng ông ủng hộ và phục tùng quyết định của Tòa án. Cuối cùng Tòa án quyết định cho phép Tống Văn Sơ được kháng án lên Hội đồng Cơ mật, Tòa yêu cầu hồ sơ kháng án phải được hoàn tất và gửi đi trong vòng ba tháng.

3. Giải quyết việc kháng cáo của Tống Văn Sơ tại Hội đồng Cơ mật(Tòa án nhà Vua) ở Luân Đôn

Kết quả 09 phiên xử của Tòa án Hồng Kông về vụ án Tống Văn Sơ cuối cùng chỉ là việc đưa ra một phán quyết cốt là bênh vực và giữ thể diện cho hành động sai trái của chính quyền hanh pháp Hồng Kông khi không chứng minh được Tống Văn Sơ có hành vi chống đối và làm tổn hại đến lợi ích của nước Anh. 

Trong thời gian các luật sư chuẩn bị hồ sơ kháng án gửi lên Hội đồng Cơ mật thì vào ngày 25/9/1931 với sự trợ giúp của luật sư Loseby, Tống Văn Sơ làm đơn gửi Thống đốc Hồng Kông và Bộ thuộc địa Anh xin phép được đi sang Anh với điều kiện được đảm bảo an toàn trên đường đi cho đến nơi, nếu được chấp thuận thì ông sẽ chấm dứt việc kháng án và không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Thống đốc Hồng Kông và các quan chức trong Bộ thuộc địa Anh đều nhận thức được việc làm sai của họ và thấy rằng yêu cầu của Tống Văn Sơ là không có gì quá đáng cả, chẳng qua là vì họ “nể mặt ông bạn Pháp” mà thôi. Nhưng khi vụ án được đưa lên Hội đồng Cơ mật thì cũng là lúc họ thức tỉnh để không vì sự xin xỏ chỉ vẽ của người Pháp mà phá vỡ đi những nguyên tắc của trật tự luật pháp Anh quốc dẫn đến phải đối mặt với sự chỉ trích của công chúng và báo chí. 

Sau khi hồ sơ kháng án được gửi đi, luật sư Loseby đã ủy nhiệm cho luật sư Denis Noel Pritt ở London thực hiện việc bào chữa cho Tống Văn Sơ trước Hội đồng Cơ mật. Phía Bộ thuộc địa Anh cử luật sư Staffort Crips làm đại diện. Qua xem xét hồ sơ chứng cứ, phán quyết của Tòa án Hồng Kông và đối chiếu với luật lệ hiện hành của Anh quốc, luật sư Staffort Crips đã nhận thấy trước sự thất bại của chính quyền nếu vụ án được đưa ra Hội đồng Cơ mật. Vì vậy Staffort Crips đã thỏa thuận với luật sư Pritt để đi đến một giải pháp làm hài lòng đôi bên và giữ thể diện cho chính quyền. Nội dung bản thỏa thuận của hai bên luật sư là bên kháng án sẽ rút đơn với sự cam kết của chính quyền Hồng Kông gồm 04 điểm: 

+ Thứ nhất, chính quyền Hồng Kông hủy bỏ việc chỉ định tàu biển trong lệnh trục xuất đối với Tống Văn Sơ.

+ Thứ hai, bất luận trong trường hợp nào cũng không giao người kháng án cho Pháp hoặc đưa người kháng án xuống một tàu biển của Pháp hoặc đến một lãnh thổ do Pháp bảo hộ.

+ Thứ ba, Chính quyền Hồng Kông sẽ cố gắng hết mình để giúp đỡ và đảm bảo rằng người kháng án sẽ đến được nơi muốn đến.

+ Thứ tư, chính quyền Hồng Kông sẽ chi 250 bảng Anh cho phí tổn của người kháng án.

Bản thỏa thuận giữa hai luật sư được gửi đến Hội đồng Cơ mật. Sau gần 10 tháng, ngày 21/7/1932 tại Điện Buckingham của Hoàng gia Anh, Hội đồng Cơ mật(gồm Hầu tước chánh án, Hầu tước Tyrrell, Hầu tước Irvin, Ngài Henry Betterton, Ngài Horace Avory và sự có mặt của Đức vua Georger VI) kiến nghị lên Đức vua Georger VI chấp thuận việc rút kháng án của Tống Văn Sơ theo các điều kiện như các luật sư hai bên đã thỏa thuận. Nhà vua Anh đồng ý và ra lệnh các bên liên quan phải thực hiện một cách đầy đủ các kiến nghị của Hội đồng Cơ mật. Đến đây vụ án đã thật sự kết thúc với thắng lợi thuộc về Tống Văn Sơ và các luật sư.



        Ảnh: Hồ Chủ tịch trò chuyện với gia đình ân nhân Luật sư Henry Loseby năm 1960 tại Hà Nội

4. Kết luận và một vài nhận xét về tranh tụng trong vụ án

Xã hội phương Tây vốn có truyền thống tôn trọng luật pháp, bởi vì người ta quan niệm rằng luật pháp là một phần tất yếu và quý giá của cuộc sống. Thật không thể nào chấp nhận được sự lạm dụng quyền lực của bất cứ chủ thể nào dẫn đến nguy cơ phá vỡ những nguyên tắc căn bản của luật pháp. Khi luật pháp bị sự lạm dụng làm tha hóa thì lợi ích đời sống con người sẽ dẫn đến đổ vỡ. Điều đó thể hiện hoàn toàn đúng tại nước Anh - quê hương của hệ thống pháp luật Anglo-Saxon, một truyền thống(không thể nói là không tốt đẹp) mà sức sống và sự lan tỏa đối với nền văn minh nhân loại đã và sẽ còn tồn tại mãi với thời gian. 

Nhìn lại lịch sử chúng ta sẽ thấy rõ hơn điều này: Khi xưa người thầy vĩ đại của giai cấp vô sản là K.Mark bị đuổi ra khỏi nước Đức vì công bố tác phẩm Tuyên ngôn Đảng cộng sản(1848), có tư tưởng chống lại chính quyền Đức, phải chạy sang Pháp sống nhờ và cũng bị nước Pháp đuổi đi, nhưng khi K.Mark đến Anh quốc thì chính quyền Anh đã chấp nhận cho ở lại với hàm ý “muốn làm gì thì làm nhưng tuyệt đối không được làm hại đến nước Anh”. 

Và, gần đây, năm 2000 ông Berezovsky tỷ phú người Nga, nguyên là Phó chủ tịch Hội đồng An ninh quốc gia Nga, nhà tài phiệt khoác áo chính trị gia này hoảng sợ trước “chiến dịch bàn tay sạch” của chính quyền tổng thống V.Putin đối với giới tài phiệt nên chạy sang Anh quốc xin tị nạn chính trị. Sau đó chính quyền của tổng thống V.Putin đã gây mọi áp lực đòi dẫn độ Berezovsky về Nga để xử tội nhưng không được Anh quốc chấp nhận. Qua đó cho thấy rằng, trong vụ án ở Hồng Kông, các luật sư và Tống Văn Sơ giành được phần thắng lợi chính là nhờ ở việc nhận thức đúng và đưa ra đòi hỏi chính đáng của mình: chính quyền Anh phải thực thi đúng nguyên tắc truyền thống của pháp luật nước Anh.

Diễn tiến tố tụng của vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông cho thấy rõ một số nét nổi bật cả về ưu điểm lẫn khiếm khuyết của hệ thống tố tụng tranh tụng rất dễ nhận thấy sau đây:

Thứ nhất, vai trò của Tòa án thật sự là trọng tài: Tòa án chỉ đảm nhiệm việc nghe lý lẽ và các bằng chứng mà các bên buộc tội(Công tố viện) và bên gỡ tội(luật sư bào chữa, bị cáo) trình bày và xuất trình tại Tòa. Trong quá trình tranh tụng, những ý kiến của Tòa chỉ là việc giải thích pháp luật và đưa ra lời chấp nhận hay không chấp nhận các thỉnh cầu, đề nghị của các bên tranh tụng liên quan đến việc đánh giá các sự kiện pháp lý cụ thể của vụ án.

Thứ hai, thời gian tranh tụng là không hạn chế. Vụ án Nguyễn Ái Quốc được xét xử bằng 09 phiên Tòa ngắt quãng về mặt thời gian, kéo dài trong 84 ngày(ngoại trừ thủ tục Phúc thẩm ở Hội đồng Cơ mật). Các bên buộc tội và bào chữa đều có một thời gian rất rộng rãi để tranh tụng thông qua việc nghiên cứu đối chiếu luật lệ, xác lập nội dung và chiến thuật tranh tụng cho từng vấn đề trong từng phiên tranh tụng. Nhờ đó mà mọi vấn đề của vụ án được xem xét một cách khách quan, toàn diện, thận trọng.

Thứ ba, bản chất của tranh tụng là công khai và dân chủ. Tòa án là diễn đàn để các bên có quyền phát biểu đánh giá bất cứ vấn đề gì theo cách nhận thức, đánh giá của mình mà không bị bất cứ tác động áp đặt, chi phối hoặc ràng buộc pháp lý từ phía nào. Quyền bình đẳng giữa các bên tranh tụng là thực chất, dù muốn hay không thì các bên tranh tụng đều không thể không thể hiện hết khả năng của mình trong việc thuyết phục và giành lấy sự tin cậy, ủng hộ và cuối cùng là sự chấp nhận của Tòa án về phía mình.

Thứ tư, các bên thực hiện việc tranh tụng bao giờ cũng đi vào các nội dung chi tiết với mục đích rõ ràng. Nội dung cốt lõi trong tranh tụng chính là phân tích, đánh giá các sự kiện pháp lý mà mỗi một sự kiện pháp lý là tiền đề phản ánh bất cứ vấn đề nào gắn liền với đối tượng của tranh tụng. Tranh tụng phản ánh cách thức giải quyết các vấn đề xung đột lợi ích giữa các bên tranh tụng và được thực hiện bởi nhiều cách thức khác nhau trong phạm vi quy tắc tố tụng cho phép. Địa vị pháp lý của luật sư thật sự bình đẳng, vai trò của luật sư thật sự được coi trọng và trong những chừng mực cần thiết có ý nghĩa quyết định đối với mục đích và kết quả cuối cùng của tranh tụng.

Thứ năm, tranh tụng phản chiếu trình độ phát triển, văn hóa pháp lý, truyền thống pháp luật của quốc gia. Thể hiện phương pháp và nghệ thuật tổ chức thực hiện quyền lực tư pháp hướng tới lẽ công bằng, sự minh bạch và làm hài hòa các quan điểm và lợi ích đang xung đột nhau.

Thứ sáu, sự tương quan về lực lượng giữa các bên tranh tụng theo hướng tập thể hóa trong thực hiện chức năng tranh tụng là một nét đặc trưng. Dù là phía buộc tội hay bào chữa, các bên đều cử ra một nhóm các thành viên hậu thuẫn cho nhau trong việc thực hiện chức trách nhiệm vụ của mình từ những vấn đề chiến lược và chiến thuật tranh tụng, đảm bảo tính kịp thời và sự nhạy bén trong tranh tụng. Không có cảnh một bên đơn độc và chịu sức ép của bên đối trọng về tương quan lực lượng.

Thứ bảy, mô hình tố tụng tranh tụng gắn liền với hệ thống pháp luật Anglo-Saxon, với cung cách tổ chức phiên tòa tranh tụng thường phát sinh tốn kém về chi phí cả tiền bạc lẫn thời gian. Luật hình thức(luật tố tụng) rất được coi trọng, có khi còn được coi trọng hơn cả luật nội dung, vì vậy người ta có thể lợi dụng tính chất bất cập này của luật pháp để thoát khỏi bị truy cứu trách nhiệm pháp lý.

Mỗi mô hình tranh tụng đều hàm chứa những yếu tố tích cực lẫn khiếm khuyết. Không có một mô hình tranh tụng nào là hoàn hảo, có chăng chỉ là việc cố gắng hạn chế tối đa sự bộc lộ các khiếm khuyết. Chính vì vậy mà cùng với sự xích lại gần giữa các hệ thống pháp luật đã kéo theo sự xích lại gần của các mô hình tranh tụng cho phép các bên có thể học tập, bổ sung cho nhau để tự mình hoàn thiện và loại trừ những khiếm khuyết không đáng có. Đó cũng là chiều hướng phát triển tích cực phù hợp quy luật khách quan.

Mô hình tố tụng hình sự của Việt Nam là tố tụng thẩm cứu, chịu sự ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, nhất là mô hình tố tụng Xô - viết. Sự vận hành mô hình tố tụng Việt Nam đã và đang tồn tại những bất cập đã được phản ánh nhiều trên các văn bản, cương lĩnh, đường lối và chương trình hành động của Đảng cộng sản và Nhà nước đối với công tác tư pháp hình sự; từ kết quả nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn của giới nghiên cứu và các nhà hoạt động thực tiễn. Đó là lý do cho một cuộc cải cách tư pháp toàn diện và mạnh mẽ cần phải tiến hành một cách khẩn trương hơn.

Cải cách tư pháp là một yêu cầu khách quan trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên công cuộc cải cách mới chỉ là sự khởi đầu mà tiến trình vẫn còn quá chậm. Những thử nghiệm ban đầu về tranh tụng đã mang những dấu ấn tích cực nhưng chưa thật sự thoát ly khỏi cơ chế và cách làm cũ, còn nặng về tính phong trào bởi nhiều lý do khách quan và chủ quan. 

Sự cần thiết phải khẩn trương xây dựng một hệ thống thống nhất lý luận khoa học về tranh tụng để định hướng và dẫn dắt thực tiễn họat động của hệ thống tư pháp hình sự là một vấn đề mang tính thời sự và nền tảng lâu dài để tổ chức hiệu quả quyền lực tư pháp trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Để nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng hình sự thì cần phải hướng tới tranh tụng, tranh tụng dân chủ sẽ thật sự làm sáng tỏ chân lý và nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng hình sự. Vì vậy việc nghiên cứu để hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn mô hình tranh tụng là một đòi hỏi khách quan, cần có sự tham gia của các ngành các cấp, các nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn, cả trên bình diện quốc gia và quốc tế, với tinh thần khẩn trương và thiết thực hơn.

ThS Nguyễn Phúc Lưu 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Bảo tàng Hồ Chí Minh, Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931-1933, tư liệu và hình ảnh, NXB Chính trị quốc gia, H.2004.
2. Bùi Đức Mãn, Lược sử nước Anh, NXB TP.Hồ Chí Minh, 2002.